
ỨNG DỤNG TIẾN BỘ KỸ THUẬT NÂNG CAO NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG ĐÀN ONG NỘI TẠI NHO QUAN, NINH BÌNH
15:34 - 13/10/2026
Nhiệt liệt chào mừng Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam 18-5
Trung tâm Nghiên cứu Ong và Thủy cầm tại Hội nghị Phát triển Kinh tế Xanh Lai Châu
Thành lập Trung tâm Nghiên cứu Ong và Thủy cầm
Những điều cần biết về phấn hoa ong
Nhằm khai thác hiệu quả nguồn hoa tự nhiên, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm mật ong, Trung tâm Nghiên cứu Ong và Thủy cầm đã triển khai nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh: “Nghiên cứu ứng dụng tiến bộ kỹ thuật tiên tiến nhằm nâng cao năng suất, chất lượng đàn ong nội (Apis cerana) tại huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình”, do ThS. Lại Mạnh Toàn làm chủ nhiệm. Kết quả thực hiện đề tài đã góp phần hoàn thiện quy trình kỹ thuật nuôi ong phù hợp với điều kiện địa phương, nâng cao hiệu quả sản xuất và thúc đẩy phát triển nghề nuôi ong theo hướng bền vững.
Trên cơ sở điều tra, khảo sát thực tế và triển khai các thí nghiệm, đề tài đã xây dựng, hoàn thiện bộ quy trình kỹ thuật nuôi ong nội phù hợp với điều kiện sinh thái tại Nho Quan. Các nội dung chính bao gồm sử dụng thức ăn bổ sung thay thế phấn hoa, nuôi ong bằng thùng kế, tạo ong chúa, chia đàn, chăm sóc và quản lý đàn theo mùa vụ, phòng trị bệnh, khai thác, sơ chế và bảo quản sản phẩm. Việc áp dụng đồng bộ các giải pháp kỹ thuật giúp người nuôi chủ động hơn trong quản lý đàn, nâng cao khả năng phát triển đàn và khai thác hiệu quả nguồn mật tại địa phương.
Một trong những kết quả nổi bật của đề tài là đã xây dựng mô hình nuôi ong nội tại 10 hộ thuộc xã Cúc Phương, huyện Nho Quan. Các hộ được hỗ trợ tổng cộng 1.000 đàn ong nội và 1.000 máng cho ăn, đồng thời được hướng dẫn trực tiếp về chăm sóc, quản lý đàn, tạo chúa, chia đàn, phòng bệnh và thu hoạch mật. Đến tháng 6/2026, tổng đàn ong trong mô hình đạt 1.460 đàn, tăng 460 đàn, tương đương 46% so với thời điểm bàn giao. Năng suất mật bình quân đạt 23,71 kg/đàn/năm, vượt mức yêu cầu tối thiểu 20 kg/đàn/năm; năng suất sáp đạt 0,41 kg/đàn/năm, cao hơn mức yêu cầu 0,30 kg/đàn/năm. Những kết quả này cho thấy tiềm năng phát triển đàn và hiệu quả của việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong điều kiện sản xuất thực tế tại địa phương.
Song song với nâng cao năng suất, đề tài quan tâm kiểm soát chất lượng mật ong. Kết quả phân tích các mẫu mật ong trong mô hình cho thấy sản phẩm có màu vàng đậm đặc trưng, mùi thơm, vị ngọt hài hòa; hàm lượng nước dao động khoảng 21–23%, tổng hàm lượng glucose và fructose đạt 65,23%. Theo kết quả kiểm tra được báo cáo, các chỉ tiêu phân tích đáp ứng yêu cầu của TCVN 12605:2019.
Để chuyển giao kết quả nghiên cứu vào sản xuất, đề tài đã tổ chức tập huấn cho 50 học viên, đồng thời phối hợp với Hợp tác xã Sản xuất và Tiêu thụ mật ong Cúc Phương thúc đẩy liên kết tiêu thụ sản phẩm. Tổng sản lượng mật của các hộ tham gia mô hình đạt 16.880 lít và đã được tiêu thụ hết; trong đó, 2.625 lít được tiêu thụ thông qua chuỗi liên kết. Đây là cơ sở quan trọng để nâng cao hiệu quả kinh tế, tăng khả năng tiếp cận thị trường và từng bước xây dựng chuỗi giá trị cho sản phẩm mật ong địa phương.

Tập huấn kỹ thuật (trái) và hướng dẫn tại điểm nuôi ong (phải)
Với những kết quả đạt được, đề tài khẳng định hiệu quả của việc ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trong nâng cao năng suất, chất lượng đàn ong nội tại Nho Quan. Đồng thời, góp phần nâng cao thu nhập cho người nuôi ong, thúc đẩy liên kết sản xuất – tiêu thụ, phát triển sản phẩm mật ong Cúc Phương gắn với bảo vệ rừng, duy trì nguồn cây mật và bảo tồn đa dạng sinh học, hướng tới phát triển nghề nuôi ong bền vững tại địa phương.

